Ngân hàng đang đưa quá nhiều tiền mệnh giá 500.000 đồng ra lưu thông

https://baodautu.vn/ngan-hang-dang-dua-qua-nhieu-tien-menh-gia-500000-dong-ra-luu-thong-d141328.html
T.L – 19/04/2021 12:14

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các Sở giao dịch, chi nhánh tăng cường chi tiền mệnh giá nhỏ từ 10.000 đồng trở xuống ra lưu thông.

f
NHNN đề nghị các Sở giao dịch, Chi nhánh NHNN tăng cường chi tiền mệnh giá nhỏ ra lưu thông

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản chỉ đạo Sở Giao dịch, Chi nhánh cân đối tỷ lệ cơ cấu các loại mệnh giá tiền đưa ra lưu thông, đảm bảo tỷ lệ chi loại tiền 500.000 đồng ra lưu thông theo quy định của NHNN và tăng cường chi tiền mệnh giá nhỏ từ 10.000 đồng trở xuống ra lưu thông.

Qua theo dõi của NHNN cho thấy nhiều đơn vị đã nỗ lực thực hiện chỉ đạo của NHNN về cơ cấu loại tiền chi ra lưu thông; tỷ lệ chi mệnh giá 500.000 đồng bình quân toàn quốc có xu hướng giảm, mệnh giá 200.000 đồng và 100.000 đồng được tăng cường đưa ra lưu thông, tiền mệnh giá nhỏ từ 10.000 đồng trở xuống được chi ra hợp lý, đúng mục đích thanh toán, cơ cấu các loại tiền trong lưu thông được cải thiện.

Tuy nhiên, tỷ lệ chi loại tiền 500.000 đồng ra lưu thông tại một số đơn vị vẫn ở mức cao (năm 2020, các chi nhánh có từ 5/10 tháng chi loại tiền 500.000 đồng vượt mức 60% trở lên là Quảng Bình, Bình Dương, Đồng Nai, Cà Mau, Thái Bình); việc chi các loại tiền mệnh giá nhỏ tại một số đơn vị chưa được thực hiện tích cực, thông suốt.

Để tiếp tục đảm bảo tỷ lệ cơ cấu hợp lý các loại tiền chi ra lưu thông, ngày 08/4/2021, NHNN đã có Công văn số 2350/NHNN-PHKQ về việc đáp ứng cơ cấu loại tiền chi ra lưu thông yêu cầu Sở Giao dịch, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố nghiêm túc triển khai thực hiện một số nội dung sau:

Một là, thường xuyên theo dõi diễn biến thu, chi tiền mặt trên địa bàn, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu tiền mặt cho các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước. Chủ động cân đối tỷ lệ cơ cấu các loại mệnh giá tiền chi ra lưu thông, trong đó tăng cường chi các loại tiền 100.000 đồng và 200.000 đồng. Riêng loại tiền 500.000 đồng tỷ lệ chi ra lưu thông không vượt quá 60% giá trị của mỗi khoản chi.

Hai là, tăng cường chi tiền mệnh giá nhỏ từ 10.000 đồng trở xuống ra lưu thông, bao gồm tiền đã qua sử dụng và tiền mới in (thời gian chi tiền mới in từ tháng 4 đến hết tháng 11/2021); yêu cầu tỏ chức tín dụng (TCTD) đáp ứng đầy đủ nhu cầu thanh toán cho các siêu thị, đơn vị bán lẻ và cá nhân (tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đến NHNN đổi tiền nhỏ lẻ phục vụ nhu cầu thanh toán).

Ba là, chủ động nghiên cứu đánh giá tình hình tiền mặt, cơ cấu và chất lượng tiền trong lưu thông, nhu cầu tiền mệnh giá nhỏ trên địa bàn, phối hợp với Cục Phát hành và Kho quỹ để đảm bảo cung ứng đủ nhu cầu tiền mặt trên địa bàn.

Đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Chủ tịch Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên), Tổng Giám đốc (Giám đốc) TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chịu trách nhiệm chỉ đạo, quán triệt chủ trương của NHNN để các đơn vị chủ động cân đối kế hoạch thu – chi và triển khai thực hiện tăng cường chi các loại tiền mệnh giá nhỏ từ 10.000 đồng trở xuống.

Cục Phát hành và Kho quỹ theo dõi, nắm diễn biến tình hình lưu thông tiền mặt, cơ cấu các loại mệnh giá tiền dự trữ tại NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố và Sở Giao dịch để thực hiện tốt công tác điều hòa, điều chuyển tiền mặt, đảm bảo đáp ứng cả về mặt giá trị và cơ cấu các loại mệnh giá; Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chỉ đạo này đối với NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố, Sở Giao dịch và các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Nhà đầu tư nước ngoài có phải là một mục tiêu?

https://baodautu.vn/thoai-von-nha-nuoc-tai-doanh-nghiep-nha-dau-tu-nuoc-ngoai-co-phai-la-mot-muc-tieu-d141236.html

Khánh An – 19/04/2021 12:17

Kế hoạch thoái vốn nhà nước của nhiều doanh nghiệp đang không thể đưa nhà đầu tư nước ngoài vào tầm ngắm. Khúc mắc nằm ở cả quy định, quy trình thoái vốn thiếu rõ ràng.

Vinamilk là một điển hình về thành công trong bán vốn cho cổ đông chiến lược.

Câu chuyện của PTI: Hỏi mãi…

Tính đến tháng 4/2021, Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) đã đợi 9 tháng, nhưng chưa nhận được câu trả lời từ Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về trường hợp của mình.

“Chúng tôi chỉ mong sớm nhận được câu trả lời, để biết sẽ được làm gì tiếp theo”, ông Bùi Xuân Thu, Tổng giám đốc PTI trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư.

Trước đó, trong Hội thảo Tình hình thực tế, những thuận lợi, khó khăn và vướng mắc trong việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp tổ chức cuối tuần trước, ông Thu đã dành khá nhiều thời gian để kể câu chuyện thành công của PTI trong việc tìm kiếm đối tác chiến lược 5 năm trước.

Năm 2014, vốn nhà nước ở PTI chiến hơn 50%, trong đó 36% thuộc về VNPost.

Năm 2015, Công ty xác định cần phải tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, để cải thiện năng lực cạnh tranh, nắm giữ vị trí cao hơn trong thị trường bảo hiểm Việt Nam. Công ty bảo hiểm DB đến từ Hàn Quốc (DB Insurance) đã trở thành một trong 3 cổ đông chính của PTI, với tỷ lệ sở hữu 37,32%.

Nhờ mối liên kết này, PTI đã vươn lên vị trí số 3 về thị phần bảo hiểm. Tuy nhiên, vào thời điểm này, PTI lại gặp phải vấn đề về tăng vốn.

Ông Thu giải thích, kể từ sau lần phát hành cổ phiếu đơn lẻ cho DB Insurance đến nay, PTI giữ nguyên mức vốn điều lệ là 804 tỷ đồng, tỷ lệ vốn do cổ đông nhà nước giảm còn 35%, trong khi thị trường bảo hiểm đang có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ.

Nhưng nếu tăng vốn, VNPost sẽ không được tham gia theo hình thức phát hành cho cổ đông hiện hữu vì đang xây dựng phương án thoái toàn bộ vốn khỏi PTI trong năm nay. Đây là lý do, tháng 6/2020, Đại hội cổ đông PTI đã thông qua chủ trương nâng tỷ lệ sở hữu tối đa của cổ đông nước ngoài tại PTI từ 49% lên 100%. Và việc chờ đợi của PTI bắt đầu khi đề xuất được gửi lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

“Tháng 7/2020, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có văn bản thông báo đã báo cáo Bộ Tài chính xác định tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với ngành nghề kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ có bao gồm bảo hiểm sức khỏe. Từ đó đến nay, chúng tôi chưa nhận được câu trả lời”, ông Thu cho biết.

Câu trả lời nằm ở từ khóa “muốn hay không”

PTI không phải là doanh nghiệp duy nhất chờ đợi. Ông Lê Song Lai, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cho biết, SCIC cũng đang đợi câu trả lời tương tự.

“SCIC đang tổ chức thoái vốn tại một số doanh nghiệp bảo hiểm. 2 năm trước, chúng tôi đã gửi văn bản hỏi cơ quan chức năng rằng, với lĩnh vực bảo hiểm, nhà đầu tư nước ngoài được mở đến đâu. Nhiều cuộc họp, lấy ý kiến các cơ quan chức năng cả trong ngành, ngoài ngành, nhưng vẫn chưa có câu trả lời về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bảo hiểm. Chỉ cần câu trả lời là 49% hay 100%, chúng tôi sẽ làm đúng như vậy”, ông Lai nhấn mạnh.

Nếu chúng ta xác định tìm nhà đầu tư chiến lược, có thể là nhà đầu tư ngoại hoặc nội, thì cũng phải sửa đổi quy định, quy trình để thực hiện được.

Ông Lê Song Lai, Phó tổng giám đốc SCIC

Thực ra, nếu dựa trên những quy định hiện hữu, câu trả lời cũng không quá khó. Chiểu theo cam kết về lĩnh vực mà Việt Nam loại trừ trong WTO, bảo hiểm y tế có tên, nhưng nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe không bao gồm nghiệp vụ bảo hiểm y tế. Hơn thế, pháp luật Việt Nam đã cho phép thành lập công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài.

Mấu chốt nằm ở chỗ, theo ông Lai, SCIC cần một văn bản trả lời chính xác tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thì mới thực hiện được các kế hoạch thoái vốn.

Tuy nhiên, đây cũng là một trong những lý do chính cản trở sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài tới các đợt thoái vốn nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

“Nhiều nhà đầu tư nước ngoài gặp chúng tôi nói rằng, họ cần thấy các quy định và cả quy trình rõ ràng, thuận lợi, nhất là với các các thương vụ tỷ đô. Ở góc độ này, có vẻ như chúng ta chưa đặt trọng yêu cầu tìm kiếm được các nhà đầu tư chiến lược phù hợp với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp”, ông Lai thẳng thắn.

Hiện tại, các phương thức thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp đang được thực hiện theo trình tự 3 bước: đấu giá; đấu giá không thành công thì chào giá cạnh tranh; không được mới đi đến thỏa thuận. Với các cách này, nhà đầu tư nước ngoài dù có thể phải bỏ vài tỷ USD cũng không có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu doanh nghiệp một cách kỹ lưỡng, mà trông đợi toàn bộ vào thông tin được công bố công khai. Nếu phân tích kỹ hơn ở cả quy trình về đặt cọc, thanh toán, thì các quy định mang tính kỹ thuật như sử dụng VND hay thời gian thanh toán trong 8-10 ngày… cũng đang là rào cản rất lớn với các nhà đầu tư ngoại.

Trong rất nhiều lần trao đổi về vấn đề này, câu hỏi từ giới chuyên gia kinh tế là mục tiêu thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp là gì: tối ưu hóa tiền thu về hay chọn được nhà đầu tư chiến lược cho kế hoạch phát triển dài hạn của doanh nghiệp.

Tất nhiên, theo các chuyên gia, không phải doanh nghiệp nào cũng cần nhà đầu tư nước ngoài, nhưng với doanh nghiệp quy mô lớn, tìm cổ đông chiến lược nước ngoài phải là một trong những ưu tiên. Bài học thành công của Vinamilk, Công ty Nhựa Bình Minh với sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài vẫn hay được nhắc đến.

Ông Lai cũng thừa nhận điều này. Trong 15 năm thành lập, SCIC đã thoái vốn thành công tại 1.017 doanh nghiệp, nhưng với các doanh nghiệp quy mô lớn, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của các đợt thoái vốn. Các doanh nghiệp này có sự thay đổi vượt bậc về quản trị, tài chính, thương hiệu…

Trái phiếu doanh nghiệp vỡ nợ gần kề

https://danlambaovn.blogspot.com/2021/04/trai-phieu-doanh-nghiep-vo-no-gan-ke.html

nguye%25CC%2582%25CC%2583n%2Bxua%25CC%2582n%2Bphu%25CC%2581c-thi%25CC%25A3%2Btru%25CC%259Bo%25CC%259B%25CC%2580ng%2Bchu%25CC%259B%25CC%2581ng%2Bkhoa%25CC%2581n2-danlambao.jpg
Trần nguyên Thao (Danlambao)
Năm 2020, khối Bất Động Sản (BĐS) phát hành 182,6 nghìn tỷ trái phiếu, trong đó khoảng 63 ngàn tỷ không có tài sản đảm bảo, nguồn cơn đưa đến vỡ nợ.

– Doanh Nghiệp phát hành đợt trái phiếu mới, gom tiền trả trái phiếu đáo hạn, là đảo nợ tiềm ẩn vỡ nợ.

– Cơn sốt chứng khoán, BĐS năm 2021 có nhiều nét tương đồng với năm 2006, liệu thị trường BĐS có sắp gãy đổ như kịch bản cách đây 13 năm?.

Làn sóng vỡ nợ Trái Phiếu Doanh Nghiệp (TPDN) bên Hoa Lục đang tràn qua với sức mạnh vùi dập thị trường Doanh Nghiệp Việt Nam, khi mà lãnh vực Bất Động Sản (BĐS) và Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) Việt Nam từ lâu tiềm ẩn nguy cơ xảy ra nợ xấu, rất xấu – yếu tố ảnh hưởng đến TPDN. Năm 2021, thời điểm nhiều TPDN đáo hạn, trong lúc các Doanh Nghiệp phát hành trái phiếu, không có dòng tiền vào để có thể trả nợ. Lời báo động được chính giới thẩm quyền CSVN đưa ra đúng vào lúc Trưởng Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ (USTR) bà Katherine Tai bày tỏ quan ngại về chính sách tiền tệ; khai thác gỗ bất hợp pháp; thương mại kỹ thuật số và nông nghiệp của Việt Nam… trong cuộc điện đàm với Bộ trưởng Công Thương Việt Nam Trần Tuấn Anh, được hãng tin Reuters và cả Bloomberg loan đi ngày 1 tháng 4 mới đây. Nếu Việt Nam bị Hoa Kỳ áp thuế trên hàng hóa bán sang Mỹ, vì vi phạm các điều vừa dẫn, hậu quả sẽ tác động rất xấu đến nền Kinh Tế, Tài Chánh Việt Nam.

Chỉ tính tới tháng 9/ 2019, tổng giá trị các vụ vỡ nợ TPDN của Tầu cộng lên tới 78,4 tỷ CNY, bằng hơn 11 tỷ Mỹ kim, [1] tăng 51% so với cùng kỳ năm 2018. Trọn năm 2019, thị trường trái phiếu nội địa của Trung cộng vỡ nợ kỷ lục với tổng cộng đã có 113,9 tỷ nhân dân tệ trái phiếu không thanh toán đúng hạn, trong đó có 53 vụ vỡ nợ trái phiếu của công ty tư nhân và 82 vụ của công ty đã niêm yết.

6QDvf9czB0bk-i9GITgFTFI_AQufNt833RsKgEiu3MGdBO9zdPHqSWCZbf9QjSB6zpUpneDE2fIOEwsbc2TJi4SDp4rcb6NJMXOvmUWbf-jrqASkCo-_CckTxpvWUwx7xgxrqrk=w400-h249

Đến tháng 11/2020 số vụ vỡ nợ TPDN lan rộng thêm khắp Hoa Lục, tỷ lệ tăng 150% so với cùng kỳ năm trước, tương đương 4 tỷ Mỹ kim. Tổng giá trị TPDN bị trì hoãn trả nợ hoặc bị hủy, mới đến tháng 11/2020 cũng lên tới hơn 200 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 30.5 tỷ Mỹ kim. Hai công ty tiêu biểu trong khối Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN) lâm tình cảnh vỡ nợ trái phiếu được nêu tên: Công ty Tsinghua Unigroup kích hoạt điều khoản vi phạm chéo (cross defaults) đối với 2 tỷ Mỹ kim trái phiếu, và Peking University Founder Group đang có tổng số nợ lớn nhất lên tới 42,8 tỷ NDT bằng 6,57 tỷ Mỹ kim, đã tuyên bố “không thể trả nợ”, nên nộp đơn xin tái cấu trúc nợ. [2]

Các chuyển biến thị trường trái phiếu bân Tầu, tạo ra một thời câu chuyện “nóng bỏng” hàng ngày trong giới Tài Chánh là nỗi âu lo TPDN có thể vỡ nợ. Các chuyên gia tài chánh than phiền rằng, nguồn cơn vỡ nợ TPDN nằm trong thời “4 năm 63 ngày” làm Phó Thủ Tướng (1916-2020), ông Vương đình Huệ đã dùng phiên bản TPDN của Tầu cộng để áp dụng cho Doanh Nghiệp Việt Nam ồ ạt phát hành TPDN trong các năm trước.

Theo số liệu của Trung Tâm Phân Tích & Tư Vấn Đầu Tư SSI (SSI Research) thì, tổng số dư trái phiếu các tổ chức kinh tế mà 14 NHTM (với tổng dư nợ tín dụng chiếm khoảng 76% thị phần tín dụng toàn hệ thống – không tính Agribank) đầu tư tại 31/12/2020 là khoảng 185.000 tỷ đồng, tăng 47% so với cuối năm 2019. Tỷ trọng bình quân đầu tư TPDN trong tổng tín dụng của các NHTM này tăng từ 2,5% lên 3,2%. [3]

Các NHTM sở hữu lượng TPDN lớn nhất tại cuối năm 2020 là Techcombank, VPBank, MB. Loại trừ ngân hàng, các doanh nghiệp đã phát hành 324.000 tỷ đồng trái phiếu trong năm 2020, tăng tới 72% so với năm 2019. Trọn năm 2020, tổng số TPDN trên thị trường khoảng 455,4 nghìn tỷ đồng.

ppZu3AOO6b268GETp8xjfxDZE8xJJWQQ_9LwK1tiPSqvqznJUkN2QqEip_C3F0CDhFbxjFMCAP3solU1Xg7aU8dVzm_l8068PpgbqxBiBm7ap0kYkIIRy10T8qMan7n-M6yr2kU=w400-h249

Lượng trái phiếu các doanh nghiệp phi ngân hàng đang lưu hành ước khoảng 537.000 tỷ đồng, trong đó các NHTM sở hữu khoảng 35% – thấp hơn mức 37% tại cuối 2019. Tuy vậy, cho đến thời điểm này, số liệu chính thức TPDN đã phát hành tại Việt Nam chưa được công bố.

Hôm 07/03/2021, SSI Research đã công bố bản điều nghiên về thị trường TPDN năm 2020. [4] Theo đó, trong năm 2020, riêng các Doanh Nghiệp BĐS phát hành tổng cộng 182,6 ngàn tỷ đồng, chiếm 40,1% tổng phát hành toàn thị trường – tăng so với tỷ trọng 39,6% năm 2019 và là nhóm phát hành nhiều nhất trong 2 năm gần đây.

Vẫn theo SSI, trong năm 2020, lượng trái phiếu không có tài sản bảo đảm hoặc dựa vào cổ phiếu phát hành là gần 63 nghìn tỷ đồng, trong đó có gần 37 nghìn tỷ đồng chỉ dựa vào cổ phiếu chao nghiêng hàng ngày làm tài sản bảo đảm, thì riêng nhóm BĐS chiếm 27,1 nghìn tỷ đồng, bằng 73,2%.

Cơn sốt chứng khoán, BĐS năm 2021 có nhiều nét tương đồng với năm 2006, liệu thị trường BĐS và chứng khoán có sắp gãy đổ như kịch bản cách đây 13 năm (?). Như thế, TPDN nằm trong BĐS sẽ tan như mây khói… Các dấu hiệu và biến chuyển nhiều nét tương đồng đang lập lại.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn tín dụng. Các công ty nhỏ này xin làm công ty con của những doanh nghiệp lớn hơn, rồi nhờ tên tuổi công ty mẹ, họ phát hành TPDN với lãi xuất cao có khi gần 18%. Do lời dụ ngọt của các tổ chức và cá nhân “cò mồi” nhà đầu tư nhỏ lẻ ham lời nhiều bỏ tiền vào TPDN, do vậy các công ty nhỏ huy động vốn dễ dàng. Khi đại dịch quay lại nhiều đợt, nhiều công ty làm ăn không được bị phá sản, thì Trái Chủ chỉ còn cách cầm mớ giấy lộn đi thưa kiện để mong thu về phần nào vốn thôi!

Tính đến hết tháng 10/2020, theo báo cáo của VNDirect, tổng giá trị TPDN phát hành thành công đạt 350.883 tỷ đồng, tăng 68,1% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó giá trị trái phiếu phát hành riêng lẻ là 326.024 tỷ đồng. [4]

Lãi suất của TPDN tùy theo từng loại, Bất Động sản (BĐS) thường có tiền lời cao hơn, được xếp thành 3 nhóm: 82% khối lượng trái phiếu có lãi suất dưới 11% mỗi năm, 17% khối lượng có lãi suất từ 11-13% và 0,9% khối lượng trái phiếu có lãi suất trên 13% mỗi năm. Đáng lưu ý, sức hấp dẫn của cuộc đua phát hành trái phiếu lại đến từ cam kết lãi suất chi trả có khi lên đến 18% mỗi năm, như lô trái phiếu Happy18 Bond của Apec Group. Trong khi tiền gởi tiết kiệm bên các NHTM trung bình chỉ từ trên 3- trên 6% tùy theo ngân hàng và thời gian gởi.

l9U9iEp7u6Ib8ZKUXGMPX4g6DgquP_Evt7gYMiMFraf0zHuRyQp2vC2BL032XyViLSnp-UxtdbgahI6yfH1eP5hTXJvs12x_jE9LN5pTvocWf5C6bUHCovNDbIl2XgQPplNIym0=w283-h400

Trong phiên họp cuối nhiệm kỳ 5 năm của Nội Các Nguyễn Xuân Phúc diễn ra hôm 31/03, Bộ Trưởng Kế Hoạch & Đầu Tư Nguyễn chí Dũng chỉ đích danh “thủ phạm” khiến TPDN báo động vỡ nợ nằm trong khu vực BĐS. Ông Dũng nói, “do lãi suất gởi tiền ở NHTM có mức thấp, dòng tiền đang chuyển sang đầu tư vào thị trường bất động sản, một phần do công tác quản lý đất đai, quy hoạch và việc "thổi giá" của đối tượng môi giới, tạo nên các cơn sốt đất, khiến giá bất động sản nhiều khu vực tăng mạnh trong những tháng đầu năm, bất chấp diễn biến của dịch bệnh”. Ông Dũng coi đây là nguồn vốn tập trung vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro hơn là để phục vụ mở rộng sản xuất, kinh doanh. [5]

Cuối năm 2020, thời điểm xuất hiện nhiều thương vụ phát hành hàng nghìn tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ, thì giới Tài Chánh đã cảnh báo vỡ nợ TPDN đang đến rất gần. Nhưng một số doanh nghiệp chọn khuynh hướng phát hành các đợt trái phiếu mới với lãi xuất cao hơn, để lấy tiền trang trải cho TPDN đáo hạn trong năm 2021. Trong trường hợp lượt phát hành sau không thành công; lúc này nguy cơ vỡ nợ là rất cao.

Các chuyên gia Tài Chánh chỉ đưa (1) trường hợp điển hình làm thí dụ, công ty CII kinh doanh BĐS tại Saigon, cuối tháng 03/2021 đã rao bán 5.9 triệu trái phiếu với mệnh giá 100,000 đồng mỗi trái phiếu. Tổng khối lượng vốn cần huy động là 590 tỷ đồng. Mục đích của CII huy động vốn nhằm thanh toán đúng thời điểm trái phiếu cũ đến kỳ trả nợ. Đây là hình thức đảo nợ tiềm ẩn nhiều nguy hiểm.

Cũng giống như bân Tầu, tình trạng vỡ nợ rất dễ xẩy ra, vì cho đến nay, Việt Nam cũng có khoảng 150 ngàn Doanh Nghiệp ngưng hoạt động hay phá sản. Tạp chí Tài Chính xác nhận, chỉ trong tháng Giêng 2021 mà đã có 25.752 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước [6]. Vào lúc thị trường gặp ba đào, sóng gió thì chính bản thân doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cũng như tổ chức tín dụng đều lâm hoàn cảnh khá mong manh. Các nhà đầu tư trái phiếu nhỏ lẻ nên rất thận trọng đừng vì ham lời cao, đi đến kết cuộc “lãi không có, vốn cũng mất luôn”.

Đối với đảng CSVN trước mối nguy bị Hoa Kỳ áp thuế vì Bộ Ngân khố Mỹ trong tháng 12/2020 đã dán nhãn Việt Nam là nước thao túng tiền tệ do thặng dư thương mại ngày càng tăng với Mỹ. Trong tháng 1/2021, United States Trade Representative (USTR) đã công bố kết quả điều tra từ năm ngoái theo mục 301 của Đạo luật thương mại năm 1974. Đây là Đạo luật mà chính quyền của Tổng thống Trump đã sử dụng để áp thuế quan đối với hàng tỷ Mỹ kim hàng nhập khẩu từ Trung cộng.

Trong hoàn cảnh ngân sách cạn dần, Hà-nội phải tăng thuế, phí giữa cơn bão lạm phát đe dọa quay lại cũng không chắc có đủ tiền chi tiêu, thì chỉ còn cách “bán nước” dưới hai hình thức; (i) liên doanh khai thác thương mại dầu khí với Bắc Kinh (các giếng dầu từng bị Bắc Kinh ép không cho Hà-nội liên doanh với nhiều nước khác trước đây). (ii) Luồn lách để người Tầu khai thác các Đặc Khu Kinh Tế. Hiện nay Vân Đồn và Phú Quốc là các dự án bị Dân cả nước chống đối mãnh liệt suốt tháng 6/2018; đang được Hà-nội ưu tiên xây dựng.

Gần đây Hà-nội gia tăng trấn áp dân chúng, bắt bớ thêm nhiều tiếng nói ôn hòa. Rất có thể Hà-nội đang dọn đường để chọn lựa thi hành từng cách kiếm tiền nuôi chế độ.

06 Apr. 2021

Tham khảo:

[1] https://enternews.vn/lan-song-vo-no-trai-phieu-doanh-nghiep-trung-quoc-157714.html

[2] https://cafeland.vn/tin-tuc/nguy-co-vo-no-trai-phieu-doanh-nghiep-nhin-tu-trung-quoc-93893.html

[3] https://vietnambiz.vn/14-ngan-hang-nam-giu-185000-ty-dong-trai-phieu-doanh-nghiep-20210304190010072.htm

[4] https://baodauthau.vn/bat-dong-san-phat-hanh-182-6-nghin-ty-trai-phieu-chuyen-gia-lo-vo-tran-post103396.html

[4] https://cafeland.vn/tin-tuc/nguy-co-vo-no-trai-phieu-doanh-nghiep-nhin-tu-trung-quoc-93893.html

[5] https://dantri.com.vn/kinh-doanh/bo-truong-khdt-chi-dich-danh-thu-pham-gay-nhieu-thi-truong-bat-dong-san-20210331171809470.htm#dt_source=Cate_SuKien&dt_campaign=MainList&dt_medium=8

[6] https://tapchitaichinh.vn/bao-cao-va-thong-ke-tai-chinh/so-lieu-dang-ky-doanh-nghiep-thang-12021-331785.html

Traitimxanh-sig.png
Trần nguyên Thao

danlambaovn.blogspot.com

Trái phiếu doanh nghiệp: “Bom nợ” hiển hiện – Bài 1: Cỗ máy “3 không” hút tiền khủn g cho doanh nghiệp

https://baodautu.vn/trai-phieu-doanh-nghiep-bom-no-hien-hien—bai-1-co-may-3-khong-hut-tien-khung-cho-doanh-nghiep-d136658.html

Hà Tâm – 19/01/2021

Rủi ro đang dần hiện hữu trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp khi khả năng trả nợ của doanh nghiệp suy giảm nghiêm trọng.

Lãi suất cao ngất ngưởng, điều kiện phát hành dễ dãi khiến thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng nóng trong 2 năm qua. Tuy nhiên, rủi ro đang dần hiện hữu khi thời gian đáo hạn trái phiếu đến gần, mà khả năng trả nợ của doanh nghiệp lại suy giảm nghiêm trọng. Nhằm siết lại thị trường trái phiếu, một loạt nghị định mới được ban hành. Song cũng từ đây, nhiều bất cập khác lại nảy sinh.

Bài 1: Cỗ máy “3 không” hút tiền khủng cho doanh nghiệp

Trong khi ngân hàng thẩm định vô cùng khắt khe khi cho vay, thì hàng chục ngàn nhà đầu tư hồn nhiên vác tiền tỷ cho doanh nghiệp vay bằng cách ồ ạt mua trái phiếu doanh nghiệp, không quan tâm đến tài sản đảm bảo, định mức tín nhiệm, hay điều kiện bảo lãnh. Nhờ vậy, thông qua kênh này, hơn 2 năm qua, các doanh nghiệp đã dễ dàng huy động được lượng vốn khủng.

Cơn sốt đầu tư trái phiếu doanh nghiệp

Năm 2020, cơn sốt trái phiếu doanh nghiệp đã lan từ nhà băng, công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư… đến tận từng gia đình. Nhà nhà, người người đổ tiền mua trái phiếu doanh nghiệp để hưởng lãi suất cao.

Hàng loạt con số biết nói đã phần nào phản ánh được sức nóng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Theo báo cáo của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HXN), lũy kế 11 tháng đầu năm 2020, tổng giá trị trái phiếu phát hành đạt 392.527 tỷ đồng, tăng gần 65% so với cả năm 2019. Nói cách khác, bằng cách phát hành trái phiếu ra thị trường, doanh nghiệp đã hút về lượng vốn vay tới gần 400.000 tỷ đồng (trong đó, phát hành riêng lẻ chiếm 88%).

Nguồn: FiinResearch từ báo cáo tài chính của các nhà phát hành trái phiếu bất động sản (phân khúc bất động sản nhà ở). Số lượng nhà phát hành đưa vào tính toán qua các năm là: 2017: 60; 2018: 67; 2019: 66; 9 tháng 2020: 24 đồ họa: thanh huyền
Nguồn: FiinResearch từ báo cáo tài chính của các nhà phát hành trái phiếu bất động sản (phân khúc bất động sản nhà ở). Số lượng nhà phát hành đưa vào tính toán qua các năm là: 2017: 60; 2018: 67; 2019: 66; 9 tháng 2020: 24. Đồ họa: Thanh Huyền

Ông Trần Trọng Kiên, Phó Giám đốc Phòng Thị trường trái phiếu thuộc Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội cho hay, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2020 đã lên tới 16,16% GDP, tăng mạnh so với mức 11% năm 2019 và 9% năm 2018.

Nhìn vào báo cáo tài chính 9 tháng của các doanh nghiệp bất động sản – nhà phát hành lớn nhất thị trường – cũng rất dễ dàng nhìn thấy sự dịch chuyển trong cơ cấu huy động của doanh nghiệp. Chẳng hạn, tại Tổng công ty Đầu tư và Phát triển công nghiệp (Becamex), cơ cấu vốn huy động từ trái phiếu doanh nghiệp trong tổng vốn huy động đã tăng từ 42,8% lên 48,1%. Cơ cấu này tại Novaland tăng từ 35% lên hơn 41%; tại Vinhomes tăng từ 57% lên 70%…

Ở khía cạnh ngược lại – người mua chính trên thị trường – các nhà băng cũng tăng vọt đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Mặc dù tín dụng toàn hệ thống ngân hàng trong 9 tháng đầu năm 2020 tăng 5,91%, song theo ông Lê Xuân Đồng, Giám đốc Khối Dịch vụ nghiên cứu thị trường của FiinRerearch, một khảo sát của FiinRerearch dựa trên số liệu thu thập được từ 26 ngân hàng (chiếm 85% thị phần toàn hệ thống) của công ty này cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng 9 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 5,07%, trong khi đầu tư trái phiếu doanh nghiệp tăng tới 48,1%.

Khảo sát của Báo Đầu tư từ báo cáo tài chính quý III/2020 của một số ngân hàng cho thấy, lượng trái phiếu nắm giữ tăng vọt và đây là động lực chính cho tăng trưởng tín dụng. Cụ thể, tín dụng 9 tháng năm 2020 của Techcombank tăng 8,3%, trong đó, cho vay chỉ tăng hơn 3%, còn lại là nhờ trái phiếu doanh nghiệp. Hay TPBank, trong 9 tháng đầu năm, tín dụng tăng trưởng 15%, song nếu cộng cả trái phiếu (tăng gấp 2,65 lần), thì tổng dư nợ tăng gần gấp đôi. Tại SHB, lượng trái phiếu doanh nghiệp nắm giữ 9 tháng tăng tới 33 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, toàn hệ thống ngân hàng, lượng trái phiếu nắm giữ tăng khoảng 70% so với đầu năm.

Tuy nhiên, việc ngân hàng tăng nắm giữ trái phiếu chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Thông qua các ngân hàng, một lượng trái phiếu lớn được phân phối đến hàng chục ngàn nhà đầu tư cá nhân.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, nhà đầu tư cá nhân mua khoảng 16% tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành trên thị trường. Song nhiều chuyên gia cho rằng, con số thực tế cao hơn rất nhiều, bởi lượng trái phiếu trao tay trên thị trường thứ cấp rất lớn. Đáng lo hơn cả là, rất nhiều nhà đầu tư cá nhân chỉ quan tâm đến lãi suất trái phiếu cao ngất ngưởng, 10 – 20%/năm, mà không quan tâm đến chất lượng của doanh nghiệp phát hành cũng như các điều khoản ghi trong hợp đồng.

Trái phiếu “rác” gia tăng và nguy cơ “bom nợ” phát nổ

Cơn sốt đầu tư trái phiếu cùng sự dễ dãi của cơ quan quản lý khiến thị trường thời gian qua tràn ngập trái phiếu doanh nghiệp “3 không”: không xếp hạng tín nhiệm, không tài sản đảm bảo, không bảo lãnh thanh toán. Năm 2019, Bộ Tài chính cho biết, có ít nhất 17 doanh nghiệp phát hành trái phiếu vượt 50 – 100 lần vốn chủ sở hữu.

Hiện tượng này chưa chấm dứt năm 2020, khi hàng loạt doanh nghiệp kém tên tuổi, làm ăn thua lỗ vẫn có thể huy động hàng trăm tỷ đồng từ người dân thông qua trái phiếu doanh nghiệp. Đơn cử, tháng 8/2020, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xích lô đỏ huy động thành công 738 tỷ đồng trái phiếu, cao gấp gần 37 lần vốn điều lệ, dù kết quả kinh doanh năm 2019 lỗ 28 triệu đồng, doanh thu vỏn vẹn 2,2 triệu đồng. Với tình hình kinh doanh thua lỗ kéo dài, công ty này sẽ làm thế nào để trả các khoản nợ khủng?

Sự thiếu chuyên nghiệp của thị trường khiến chất lượng trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam “vàng thau lẫn lộn”. Khảo sát các doanh nghiệp bất động sản phát hành trái phiếu cho thấy điều bất ngờ là, lãi suất trái phiếu của nhóm doanh nghiệp tốt và nhóm doanh nghiệp yếu được cào bằng (10 – 12%/năm). Thậm chí, có doanh nghiệp sức khỏe tài chính thuộc loại rất yếu còn phát hành trái phiếu doanh nghiệp với lãi suất thấp hơn cả doanh nghiệp có sức khỏe hạng tốt.

“Điều này cho thấy, nhiều nhà đầu tư trái phiếu đang phải trả giá quá cao cho trái phiếu của các doanh nghiệp có sức khỏe kém trên thị trường”, ông Đồng nhận định.

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, luật sư Trương Thanh Đức, trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cho biết, trong 2 năm qua, có hiện tượng doanh nghiệp lợi dụng chính sách dễ dãi để phát hành trái phiếu, huy động vốn với lãi suất cao, nhưng không có phương án kinh doanh khả thi rõ ràng, khả năng trả nợ mù mịt. Nhà đầu tư cứ thấy lãi suất cao là lao vào, đẩy mình vào thế “ôm bom”.

Thực tế, nguy cơ vỡ “bom nợ” trái phiếu đã dần hiện rõ, nhất là ở nhóm trái phiếu bất động sản. Chiếm hơn 40% tổng lượng trái phiếu phát hành, trái phiếu bất động sản cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục trái phiếu đáo hạn 3 năm tới: 31% đáo hạn năm 2021, hơn 27% đáo hạn năm 2022 và gần 22% đáo hạn năm 2023. Trong khi đó, sức khỏe của nhóm doanh nghiệp này đang sụt giảm nghiêm trọng.

Ông Lê Xuân Đồng cho hay, chỉ số nợ thuần/EBITDA (đo lường mức thu nhập được tạo ra và có sẵn để trả nợ trước khi trả lãi, thuế, chi phí khấu hao) của doanh nghiệp bất động sản trong 9 tháng năm 2020 đã tăng vọt lên 6,6 lần, từ mức 3,1 lần cùng kỳ năm trước (hệ số cao cho thấy gánh nợ lớn). Trong khi đó, hệ số khả năng chi trả lãi vay giảm còn 1,4 lần, so với 5,4 lần cùng kỳ năm trước. Khả năng trả nợ của doanh nghiệp bất động sản hoàn toàn phụ thuộc vào sự khởi sắc của thị trường bất động sản cũng như khả năng huy động vốn tiếp theo. Tuy nhiên, điều này rất khó, khi Ngân hàng Nhà nước khẳng định siết chặt tín dụng bất động sản, Bộ Tài chính thắt chặt điều kiện phát hành trái phiếu và thị trường bất động sản tiếp tục ảm đạm.

Rất nhiều chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh thị trường trầm lắng như năm 2020, mà doanh nghiệp bất động sản vẫn ồ ạt huy động vốn qua phát phát hành trái phiếu để huy động vốn là rất khó hiểu, không loại trừ khả năng phát hành trái phiếu để đảo nợ ngân hàng hoặc trả nợ cho trái phiếu cũ. Do đó, một khi dòng tiền đảo nợ bị chững lại, thì rủi ro với nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu sẽ nhân đôi, nhân ba.

TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính đã cảnh báo nguy cơ thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam có thể bị “vỡ trận” như đang diễn ra tại Trung Quốc.

“Nhiều doanh nghiệp bất động sản huy động vốn cao hơn nhiều so với vốn điều lệ, trong khi nhà đầu tư không biết doanh nghiệp sử dụng tiền đó như thế nào, không có công cụ gì để kiểm soát. Nguy cơ các doanh nghiệp này không trả được nợ là rất lớn. Tình trạng vỡ nợ trái phiếu ở Trung Quốc chính là bài học nhãn tiền cho Việt Nam”, ông Hiếu nói.

Được biết, năm 2020, trái phiếu doanh nghiệp “rác” của Trung Quốc gia tăng, hàng loạt doanh nghiệp rơi vào tình trạng vỡ nợ. Tiêu biểu là Peking University Founder Group mất khả năng trả 6,57 tỷ USD, trong khi Huachen Automotive Group không thể thanh toán 148,8 triệu USD cho các trái chủ khi trái phiếu đáo hạn…

Do đó, ông Hiếu cho rằng, Bộ Tài chính cần thường xuyên rà soát sức khỏe của doanh nghiệp phát hành trái phiếu để phát hiện những doanh nghiệp có nguy cơ vỡ nợ, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời, ngăn vỡ nợ hàng loạt. Bởi nếu vỡ nợ xảy ra, dù chỉ ở một doanh nghiệp, thì uy tín của trái phiếu doanh nghiệp sẽ bị tổn hại và thanh khoản thị trường sẽ mất rất nhanh.

Nếu doanh nghiệp phát hành trái phiếu ở Việt Nam vỡ nợ, khả năng mất trắng của nhà đầu tư là rất cao, bởi rất nhiều trái phiếu doanh nghiệp không có tài sản đảm bảo, không được bảo lãnh thanh toán. Ngay cả khi có tài sản đảm bảo, thì giá trị tài sản này thường cũng rất ảo. Còn với bảo lãnh, hiện nay, một số ngân hàng cam kết bảo lãnh thanh toán, song điều khoản và điều kiện bảo lãnh cũng rất lắt léo. Nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ xem ngân hàng chỉ bảo lãnh một phần hay bảo lãnh toàn phần, bảo lãnh vô điều kiện hay có điều kiện…

Hiện nay, nhiều hợp đồng trái phiếu lên tới hàng trăm trang, nhà đầu tư chuyên nghiệp nhiều khi cũng không nắm hết được. Ngay bản thân tôi hiểu khá vững về tài chính, song tại Mỹ, khi đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, tôi vẫn phải thông qua một công ty tư vấn, rồi mới dám ký hợp đồng.

Ông Nguyễn Trí Hiếu, Chuyên gia ngân hàng

Trái phiếu doanh nghiệp: “Bom nợ” hiển hiện – Bài 2: Những thương vụ “ma” làm méo th ị trường

https://baodautu.vn/trai-phieu-doanh-nghiep-bom-no-hien-hien—bai-2-nhung-thuong-vu-ma-lam-meo-thi-truong-d136779.html

Hà Tâm – 21/01/2021

Trái phiếu doanh nghiệp được coi là công cụ nợ cao cấp, nhưng thị trường này đã bị biến thành “chợ đen”, với rất nhiều thương vụ đi đêm, những cú bắt tay dưới gầm bàn giữa các bên.

Lãi suất cao ngất ngưởng, điều kiện phát hành dễ dãi khiến thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng nóng trong 2 năm qua. Tuy nhiên, rủi ro đang dần hiện hữu khi thời gian đáo hạn trái phiếu đến gần, mà khả năng trả nợ của doanh nghiệp lại suy giảm nghiêm trọng. Nhằm siết lại thị trường trái phiếu, một loạt nghị định mới được ban hành. Song cũng từ đây, nhiều bất cập khác lại nảy sinh.

Bài 2: Những thương vụ “ma” làm méo thị trường

Trái phiếu doanh nghiệp được coi là công cụ nợ cao cấp, nhưng thị trường này đã bị biến thành “chợ đen”, với rất nhiều thương vụ đi đêm, những cú bắt tay dưới gầm bàn giữa các bên.

Mập mờ kẻ bán, người mua

Cách đây gần một tháng, công ty cháu của một tập đoàn bất động sản lớn, cũng là cổ đông lớn của một ngân hàng đã phát hành 17.000 tỷ đồng trái phiếu để huy động vốn với lãi suất 9%/năm. Song theo thông tin của nhà đầu tư mua trái phiếu do doanh nghiệp này phát hành, lãi suất thực tế mà công ty này chi trả lên tới 22%/năm.

“Huy động vốn với lãi suất cao như vậy chứng tỏ doanh nghiệp đã khát tiền đến mức… uống nước biển để giải khát”, TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nói và cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, ngoài vay vốn để đảo nợ, làm sạch bảng cân đối tài sản cuối năm, không có lý do gì khiến doanh nghiệp phát hành trái phiếu lãi suất cao như vậy.

Sự méo mó của thị trường trái phiếu doanh nghiệp không chỉ do sự gian dối của đơn vị phát hành, mà do tất cả các bên tham gia
Sự méo mó của thị trường trái phiếu doanh nghiệp không chỉ do sự gian dối của đơn vị phát hành, mà do tất cả các bên tham gia

Dù sở hữu chéo trực tiếp giữa ngân hàng với doanh nghiệp sân sau đã giảm mạnh, song theo nhiều chuyên gia, mối quan hệ này đang biến hóa phức tạp và khó kiểm soát. Dễ nhận thấy, các cổ đông lớn của ngân hàng hiện đều đồng thời là các ông chủ, bà chủ của các tập đoàn bất động sản hoặc có mối quan hệ thân thiết với các tập đoàn bất động sản.

Trong khi số lượng công ty con của ngân hàng bị kiểm soát chặt, thì số lượng công ty con, cháu, chắt… của các tập đoàn bất động sản lại tăng lên như nấm sau mưa, có tập đoàn lên tới hàng trăm công ty con, cháu, chắt. Việc xác minh mối quan hệ của các công ty này với các ông chủ nhà băng rất khó, nhất là khi ngân hàng – doanh nghiệp đang chuyển dần từ quan hệ tín dụng sang quan hệ đầu tư trái phiếu doanh nghiệp.

Năm 2020, thị trường bất động sản ảm đạm, nhưng doanh nghiệp trong ngành vẫn dồn dập phát hành trái phiếu để huy động vốn. Câu hỏi đặt ra là, doanh nghiệp bất động sản huy động vốn làm gì khi các dự án gần như đình trệ?

“Tôi được biết, có doanh nghiệp bất động sản phát hành trái phiếu huy động 3.000 tỷ đồng để triển khai dự án, song thực chất, họ chỉ sử dụng 800 tỷ đồng cho dự án, còn lại để trả nợ ngân hàng, mua dự án đất nông nghiệp khác và hạch toán lỗ, sau đó chuyển phần lợi nhuận từ các dự án lãi khác vào dự án lỗ này để né thuế thu nhập doanh nghiệp”, một chuyên gia phân tích cho biết.

Theo nhiều chuyên gia, ma trận của trái phiếu doanh nghiệp vô cùng phức tạp. Đằng sau ma trận này là một loạt nghi án liên quan đến rót vốn cho công ty sân sau, đảo nợ, chuyển lợi nhuận để trốn thuế…

Còn nhớ, năm 2019, thị trường xôn xao trước thông tin Công ty cổ phần Đầu tư Thương mại Hồng Hoàng có vẻn vẹn 5 tỷ đồng vốn trong nước, nhưng phát hành trái phiếu huy động tới 1.400 tỷ đồng từ một nhà đầu tư nước ngoài giấu tên, lãi suất lên tới 20%/năm. Đáng nói, công ty này có mối quan hệ chặt chẽ với gia đình ông chủ Ngân hàng ACB và lô trái phiếu phát hành cũng được thế chấp bằng chính cổ phiếu ACB.

Thương vụ phát hành trái phiếu bí ẩn trên đã gây ra nhiều đồn đoán về việc lách các quy định tỷ lệ sở hữu ngân hàng hay chuyển giá, chuyển thuế khi đó. Dù chưa nghi án nào được làm rõ, song điều này càng cho thấy, phát hành trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam có nhiều thương vụ vô cùng khó hiểu.

Do hầu hết trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam được phát hành riêng lẻ, nên danh tính của nhà đầu tư, lãi suất, tài sản đảm bảo… được giấu kín là chuyện bình thường, rủi ro xảy ra – nếu có – cũng không mang tính hệ thống. Tuy nhiên, nếu số trái phiếu này được bán lại cho nhà đầu tư cá nhân trên thị trường thứ cấp, rủi ro sẽ lan rộng khó kiểm soát. Vì vậy, siết lại chất lượng trái phiếu và minh bạch thông tin là đòi hỏi hàng đầu.

.
Trái phiếu doanh nghiệp cần được xem là công cụ nợ đẳng cấp, giúp doanh nghiệp vừa huy động được vốn, vừa nâng cao hình ảnh thương hiệu, không thể coi trái phiếu là công cụ để tái cấu trúc nợ. Nguồn:SSI. Đồ họa: Đan Nguyễn

Chợ vốn cao cấp thành “chợ trời” thượng vàng hạ cám

Theo ông Vũ Đức Tiến, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (SHS), trái phiếu doanh nghiệp là công cụ nợ vừa đẳng cấp, vừa đại chúng của thị trường vốn. Một khi doanh nghiệp nhận thức được đây là công cụ nợ đẳng cấp thì họ vừa huy động được vốn, lại nâng cao được hình ảnh, thương hiệu trên thị trường tài chính.

“Để huy động được vốn qua kênh trái phiếu, doanh nghiệp phải nâng cao uy tín của mình trước các trái chủ. Song đáng buồn là, thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng trái phiếu doanh nghiệp, biến công cụ nợ “sang chảnh” này thành công cụ thấp hơn cả tín dụng, coi trái phiếu là công cụ để tái cấu trúc nợ”, ông Tiến nói.

Thực tế, sự méo mó của thị trường trái phiếu không chỉ do sự gian dối của doanh nghiệp phát hành, mà do tất cả các bên tham gia: nhà đầu tư chỉ chạy theo lãi suất; cấp trung gian phân phối (ngân hàng, công ty chứng khoán…) chỉ quan tâm bán được nhiều trái phiếu doanh nghiệp mà nói quá hoặc cam kết không đúng với nhà đầu tư. Đặc biệt, thủ phạm khiến trái phiếu “rác” tràn ngập thị trường có phần lỗi không nhỏ của các nhà tư vấn phát hành.

Do không bắt buộc phải qua xếp hạng tín nhiệm, tài sản đảm bảo hay bảo lãnh thanh toán, nên công cụ duy nhất để nhà đầu tư nhận diện chất lượng trái phiếu và trả nợ của doanh nghiệp là bản cáo bạch phát hành trái phiếu (OC). Song chất lượng OC lại tùy vào yêu cầu của nhà tư vấn phát hành.

Nếu nhà tư vấn chặt chẽ, cẩn trọng, trách nhiệm…, thì doanh nghiệp phát hành phải công bố các thông tin vô cùng tỉ mỉ như: phương án sử dụng vốn thế nào, quản lý tài sản đảm bảo ra sao, có bảo lãnh thanh toán hay không… Thậm chí, có nhà phát hành còn chi tiết đến mức đưa ra cả các điều khoản ngoại trừ để nhà đầu tư cân nhắc.

Ngược lại, có nhà phát hành rất sơ sài, chỉ yêu cầu doanh nghiệp phát hành công bố vài số liệu, nửa vô tình, nửa cố ý mập mờ về phương án sử dụng vốn, khả năng trả nợ, cũng như tài sản đảm bảo của doanh nghiệp, đẩy toàn bộ rủi ro cho nhà đầu tư. Chính vì vậy, cùng một bộ OC, có nhà tư vấn lấy phí lên tới vài chục tỷ đồng, song cũng có nhà tư vấn chỉ hét giá vài trăm triệu đồng.

Nhà tư vấn phát hành chính là “chốt chặn” của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, là phễu lọc đầu tiên để thẩm định trái phiếu có tốt không, có đủ điều kiện phát hành không. Sau khi thẩm định xong, nhà tư vấn cũng chính là đơn vị trung gian “nối” doanh nghiệp phát hành đến các tổ chức trung gian phân phối, đơn vị giải ngân tham gia, cùng đưa ra các điều khoản thương mại đảm bảo minh bạch, an toàn.

“Nếu quy trình trên được thực hiện nghiêm túc, trái phiếu doanh nghiệp sẽ không tiềm ẩn nhiều rủi ro. Song nếu doanh nghiệp phát hành, bên tư vấn và cả bên phân phối có sự bắt tay nhau mập mờ, rủi ro sẽ rất lớn”, Giám đốc một công ty chứng khoán tại Hà Nội cho biết.

Để siết chặt thị trường trái phiếu doanh nghiệp, năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/9/2020 và Nghị định số 153/2020/NĐ-CP về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.

Các nghị định mới đưa ra các điều kiện phát hành khắt khe hơn với doanh nghiệp, ngăn chặn nhà đầu tư cá nhân tham gia và cũng bước đầu cảnh báo tổ chức tư vấn, phân phối, phát hành trái phiếu, chủ yếu là công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại, với yêu cầu phải cung cấp thông tin đầy đủ cho nhà đầu tư để họ có căn cứ ra quyết định đầu tư. Các tổ chức này cũng phải tính toán về tính khả thi trong thực hiện cam kết của doanh nghiệp khi phân phối trái phiếu.

Mặc dù quy định mới đã phần nào làm giảm độ nóng của thị trường trái phiếu, lọc bớt trái phiếu doanh nghiệp rác và ngăn nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ tham gia thị trường này, song nhiều chuyên gia cho rằng, thực tế, cơ quan quản lý vẫn không có công cụ để kiểm soát việc mua bán trái phiếu doanh nghiệp trao tay trên thị trường thứ cấp.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng chưa có các công cụ hữu hiệu để ngăn chặn các thương vụ “đi đêm” giữa doanh nghiệp phát hành và bên tư vấn, giải ngân; cũng không thể kiểm soát được dòng vốn huy động từ kênh trái phiếu đã được doanh nghiệp giải ngân ra sao.

“Hiện nhà đầu tư không biết nguồn vốn mà mình cho doanh nghiệp vay được sử dụng như thế nào, doanh nghiệp đó có nguy cơ đổ vỡ hay không. Theo tôi, bên cạnh đưa ra điều kiện phát hành, điều quan trọng nhất là cơ quan quản lý – ở đây là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước – phải đưa ra được cơ chế giám sát dòng vốn huy động từ trái phiếu của các doanh nghiệp”, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính đề nghị.

Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, nhiệm vụ đó vượt quá khả năng của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Hơn nữa, ở các nước, nhiệm vụ giám sát các công ty không đại chúng phát hành riêng lẻ thuộc về đơn vị tư vấn phát hành, thường là các công ty chứng khoán. Vì vậy, chính sách quản lý cần phải quy định chặt chẽ hơn nữa về trách nhiệm của nhà tư vấn phát hành.

Trái phiếu doanh nghiệp: “Bom nợ” hiển hiện – Bài 3: Đừng để doanh nghiệp lớn và ngâ n hàng “độc chiếm vốn”

https://finance.tvsi.com.vn/news/detailNews?newsid=561912

BDT – 22/01/2021

Năm 2020, Bộ Tài chính tham mưu Chính phủ ban hành nhiều quy định siết chặt quản lý thị trường trái phiếu. Thế nhưng, việc “phanh gấp” vô hình trung tạo ra các bất cập khác.
Bộ Tài chính cần quản lý hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp để không dẫn đến tình trạng đảo nợ, vỡ nợ /// Ảnh: Ngọc Thắng

Lãi suất cao ngất ngưởng, điều kiện phát hành dễ dãi khiến thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng nóng trong 2 năm qua. Tuy nhiên, rủi ro đang dần hiện hữu khi thời gian đáo hạn trái phiếu đến gần, mà khả năng trả nợ của doanh nghiệp lại suy giảm nghiêm trọng. Nhằm siết lại thị trường trái phiếu, một loạt nghị định mới được ban hành. Song cũng từ đây, nhiều bất cập khác lại nảy sinh.

Bài 3: Đừng để doanh nghiệp lớn và ngân hàng “độc chiếm vốn”

Trước sự tăng trưởng quá nóng và méo mó của thị trường trái phiếu, năm 2020, Bộ Tài chính tham mưu Chính phủ ban hành nhiều quy định siết chặt quản lý thị trường này. Thế nhưng, việc “phanh gấp” vô hình trung tạo ra các bất cập khác.

Phanh gấp, vốn chảy chỗ trũng

Sau nhiều lần cảnh báo nhưng không hạ được sức nóng của thị trường, nửa cuối năm 2020, Bộ Tài chính tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định 81/2020/NĐ-CP (Nghị định 81) sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2018/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/9/2020. Tiếp đó, cuối năm 2020, Chính phủ cũng ban hành Nghị định 153/2020/NĐ-CP (Nghị định 153) quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.

Cả 2 nghị định trên đều siết chặt điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Đặc biệt, theo Nghị định 153, doanh nghiệp chỉ được phát hành trái phiếu nếu không có nợ quá hạn 3 năm liên tiếp, đối tượng mua trái phiếu doanh nghiệp cũng bị hạn chế trong phạm vi nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp (loại nhà đầu tư nhỏ lẻ khỏi cuộc chơi trái phiếu).

Ông Nguyễn Hoàng Dương, Phó vụ trưởng Vụ Tài chính ngân hàng (Bộ Tài chính) khẳng định, việc thay đổi quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp không phải nhằm “siết” hay “nới” thị trường này. Mục đích cuối cùng của cơ quan quản lý là tạo môi trường pháp lý minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động vốn, song cũng đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư.

Đồng tình quan điểm này, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế cho rằng, việc siết lại điều kiện phát hành sẽ gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, song lại là sự cần thiết cho thị trường. Những doanh nghiệp không đủ điều kiện phát hành trái phiếu sẽ phải quay về tín dụng.

Thế nhưng, quan sát thị trường cho thấy, dòng chảy trái phiếu doanh nghiệp đang dồn vào ngành ngân hàng và các doanh nghiệp lớn. Cụ thể, sau khi Nghị định 81 có hiệu lực, lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành thành công 3 tháng sau đó (tháng 9 đến tháng 11/2020) chỉ trên dưới 10.000tỷ đồng, bằng 1/4 lượng trái phiếu phát hành tháng 8/2020, bên phát hành chủ yếu là ngân hàng. Tháng 12/2020, lượng trái phiếu phát hành thành công tăng vọt, hơn 43.000 tỷ đồng, song cũng chủ yếu là của các tổ chức tín dụng (hơn 55%). Số lượng phát hành riêng lẻ thành công còn lại cũng hầu hết của các doanh nghiệp lớn.

Việc vốn huy động từ thị trường trái phiếu thay vì chảy vào doanh nghiệp lại đổ về ngân hàng, thay vì chảy vào doanh nghiệp nhỏ và vừa lại dồn hết cho doanh nghiệp lớn cho thấy, tái cơ cấu thị trường vốn còn cả chặng đường dài. Nhiều doanh nghiệp cho hay, sở dĩ họ phải tìm đến kênh trái phiếu doanh nghiệp bởi không thể tiếp cận vốn ngân hàng. Nhưng nếu kênh trái phiếu cũng bị chặn, doanh nghiệp chỉ còn cách tìm vốn ở thị trường phi chính thức.

Nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại, siết chặt điều kiện phát hành trái phiếu chỉ có lợi cho các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp lớn, trong khi doanh nghiệp nhỏ sẽ ngày càng lún sâu vào phận “làm thuê”. Chưa kể, các nghị định trên cũng chưa giải quyết được những “điểm mờ” lớn nhất của thị trường trái phiếu hiện nay (nghi vấn đảo nợ, trốn thuế, những thương vụ dàn xếp phát hành và mua bán trái phiếu doanh nghiệp…).

Theo luật sư Trương Thanh Đức, trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), chính sách của chúng ta không đồng bộ, khi nới quá lỏng, khi siết quá chặt. Chúng ta khuyến khích doanh nghiệp thành lập công ty, khuyến khích đa dạng hóa kênh huy động vốn, song thực tế lại đóng sập cửa huy động vốn trước mắt họ. Đáng lẽ, doanh nghiệp phải tìm vốn trung, dài hạn ở thị trường trái phiếu, cổ phiếu, còn ngân hàng chỉ là nguồn cung vốn ngắn hạn. Nhưng ở nước ta, ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn tập trung cho vay trung, dài hạn.

“Hai năm vừa qua, thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển đã giảm được phần nào áp lực cho ngân hàng. Nếu bây giờ chúng ta siết quá chặt trái phiếu doanh nghiệp, vốn của cả nền kinh tế quay lại phụ thuộc vào ngân hàng như giai đoạn trước, đây là điều rất phi lý”, luật sư Trương Thanh Đức nhận xét.

Việc tiếp tục để ngân hàng, doanh nghiệp lớn “độc quyền” vốn của nền kinh tế, theo các chuyên gia, sẽ gây rủi ro cho cả ngân hàng, doanh nghiệp lẫn nền kinh tế. “Chúng ta phải phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nếu không muốn nền kinh tế tiếp tục lệ thuộc vào vốn ngân hàng. Doanh nghiệp cần nhiều kênh huy động vốn khác ngoài ngân hàng. Tất nhiên, việc thường xuyên phải “nắn chỉnh” thị trường này là cần thiết để chuyên nghiệp và minh bạch hơn”, ông Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Trưởng khoa Tài chính, Đại học Kinh tế TP.HCM nói.

Tạo sân chơi công bằng và cửa huy động vốn cho doanh nghiệp

Mặc dù trái phiếu doanh nghiệp phát triển mạnh hai năm qua, song quy mô chỉ mới chiếm 14% GDP, còn nhỏ bé so với nhiều nước trong khu vực (hơn 20%). Do đó, không nên siết chặt quá mức thị trường này. Việc nắn chỉnh thị trường, theo các chuyên gia, nên thận trọng từng bước một, đi kèm với việc nâng cao trách nhiệm công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành và vai trò của đơn vị tư vấn phát hành.

Theo luật sư Trương Thanh Đức, trái phiếu doanh nghiệp không phải là lãi suất tiết kiệm, người dân muốn an toàn thì gửi ngân hàng, muốn lãi suất cao thì mua trái phiếu doanh nghiệp, đương nhiên lãi suất cao thì rủi ro cao. Cơ hội và lãi suất, rủi ro và lợi nhuận luôn là nguyên tắc song hành. Thay vì hạn chế doanh nghiệp phát hành, cơ quan quản lý cần có cơ chế chặt chẽ hơn về minh bạch thông tin và mở ra cơ hội cho mọi nhà đầu tư.

“Nếu siết chặt như hiện nay, doanh nghiệp nhỏ bị siết hết cửa huy động vốn, lại phải tìm đến tín dụng đen. Theo tôi, thắt chặt quản lý để hướng tới sự phát triển an toàn, chuyên nghiệp là đúng, song không nên cào bằng mà phải tạo ra sân chơi công bằng, công khai, minh bạch”, ông Đức đề nghị.

Cũng theo vị luật sư này, Chính phủ cần có cơ chế “thoáng” hơn để doanh nghiệp – thậm chí là doanh nghiệp khởi nghiệp – cũng có thể phát hành trái phiếu để gọi vốn. Tuy nhiên, cần có cơ chế để doanh nghiệp bắt buộc phải sòng phẳng thông tin về tài chính, tình hình nợ nần, phương án sử dụng vốn, phương án trả nợ… Những doanh nghiệp đưa ra thông tin gian dối phải có chế tài xử phạt nặng. Đương nhiên, sẽ có những vụ doanh nghiệp phát hành trái phiếu mất khả năng trả nợ, song do phát hành riêng lẻ, mức độ ảnh hưởng đến thị trường không lớn. Hơn nữa, một vài doanh nghiệp đổ vỡ cũng là sự cảnh tỉnh cần thiết cho nhà đầu tư.

Tuy vậy, nhiều ý kiến cho rằng, giải pháp dài hạn cho thị trường vẫn là đẩy mạnh thị trường thứ cấp, doanh nghiệp phát hành phải được xếp hạng tín nhiệm… Việc phát triển thị trường thứ cấp (mua đi, bán lại) sẽ tăng tính thanh khoản cho thị trường. Nhà đầu tư cũng sẽ có tâm lý lựa chọn trái phiếu doanh nghiệp tốt, có khả năng tăng giá để mua đi bán lại (giống như cổ phiếu), thay vì chỉ nhìn vào lãi suất.

Với xếp hạng tín nhiệm, tại nhiều nước trên thế giới, đây là một trong những điều kiện để doanh nghiệp phát hành trái phiếu và cũng là căn cứ để nhà đầu tư lựa chọn. Tuy nhiên, ông Vũ Đức Tiến, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Chứng khoán SHS cho rằng, bắt buộc doanh nghiệp phát hành phải có xếp hạng tín nhiệm giai đoạn hiện nay là khiên cưỡng, vì trong nước mới có một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp và doanh nghiệp này cũng chưa công bố xếp hạng tín nhiệm cho doanh nghiệp nào.

Chính vì vậy, theo ông Tiến, nên đưa ra lộ trình và “cơ chế mềm” về xếp hạng tín nhiệm. Theo đó, những doanh nghiệp phát hành có xếp hạng tín nhiệm sẽ được hưởng một số cơ chế ưu tiên, còn doanh nghiệp chưa có xếp hạng tín nhiệm phải nâng cao trách nhiệm, vị thế của đơn vị tư vấn phát hành.

Được biết, ở một số quốc gia như Mỹ, doanh nghiệp không bắt buộc phải có xếp hạng tín nhiệm mới được phát hành trái phiếu. Tuy nhiên, trái phiếu của doanh nghiệp không qua xếp hạng tín nhiệm phải trả lãi suất rất cao và kén khách mua. Ở Việt Nam, việc “ép” xếp hạng tín nhiệm càng khó bởi các công ty xếp hạng tín nhiệm còn quá non trẻ và chưa tạo được uy tín với thị trường.

Thăng hàm cho Tô Ân Xô, Nguyễn Phú Trọng sắp tấn công ai?

https://thoibao.de/blog/2021/04/19/thang-ham-cho-xo-nguyen-phu-trong-sap-tan-cong-ai/

Lê Thanh Hải là cái tên đáng thách thức lòng kiên trì của ông Nguyễn Phú Trọng. Đã hai năm bắt Lê Tấn Hùng mà ông Nguyễn Phú Trọng chưa làm được gì đối với ông Lê Thanh Hải. Rồi Nguyễn Văn Nên ở TP. HCM không muốn tham gia tranh cử chức đại biểu quốc hội đẻ giành thời gian cho vấn đề bắt Lê Thanh Hải.

Bộ Trưởng Bộ Công An Tô Lâm là cánh tay phải của ông Nguyễn Phú Trọng bao nhiêu năm nay thì ai cũng biết. Đã 5 năm làm bộ trưởng dưới quyền ông Nguyễn Xuân Phúc mà chưa có một lần Tô Lâm làm theo lệnh của thủ tướng mà chỉ toàn là làm theo lệnh tổng bí thư.

Cái lò là sản phẩm của ông Trọng, lò nhóm lên thì người đi nhặt củi cho vào lò chính là ông Tô Lâm. Hiện nay ông Nguyễn Phú Trọng đã xây dựng 2 cánh tay nối dài nữa, đó là Nguyễn Văn Nên ở TP. HCM và Đinh Tiến Dũng ở TP. Hà Nội.

Điều dễ thấy là trong vòng 5 năm trở lại đây, ông thiếu tướng chánh văn phòng Bộ Công An luôn theo Tô Lâm như hình với bóng. Cứ khi bào Tô Lâm đánh án thì Tô Ân Xô lên truyền thông kể công cho Tô Lâm, đánh bóng tên tuổi Tô Lâm trước công chúng. Đặc biệt, những vụ án mà Tô Lâm bị chỉ trích nặng nề như vụ án bắt cóc Trịnh Xuân Thanh thì Tô Ân Xô lên báo chí bảo vệ sếp hết mực.

Đã nhiều năm nay ông Tô Lâm làm việc cho Nguyễn Phú Trọng thì nhiệm kỳ mới này ông Trọng cũng sẽ muốn Tô Lâm làm việc cho ông để đánh nhiều vụ án lớn, mà quan trọng nhất là cần phải củng cố quyền lực cho Tô Lâm để đối phó với những vụ án gai góc hơn nhiệm kỳ trước rất nhiều.

Không biết ông Nguyễn Phú Trọng có dự định bắt Nguyễn Tấn Dũng trong nhiệm kỳ 3 của ông hay không? Nếu bắt, thì ông Nguyễn Phú Trọng cần phải củng cố lực lượng mạnh hơn nữa chứ như thế này là chưa đủ.

Tô Ân Xô được phong hàm trung tướng

Phong trung tướng đến 2 người

Ngày 16/4 ông Thiếu tướng Tô Ân Xô và ông Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Toàn được cho thăng quân hàm lên Trung tướng. Ông Tô Ân Xô là Chánh Văn phòng Bộ Công an, Người phát ngôn của Bộ Công an, còn ông Nguyễn Ngọc Toàn là Cục trưởng Cục công tác đảng và công tác chính trị.

Chiều ngày 16/4, tại Hà Nội, ông Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an đã chủ trì Lễ công bố Quyết định của Chủ tịch nước về việc thăng cấp bậc hàm Trung tướng đối với Thiếu tướng Tô Ân Xô và ông Nguyễn Ngọc Toàn, Cục trưởng Cục công tác đảng và công tác chính trị.

Quyết định này là quyết định của ông Nguyễn Phú Trọng trước đây, điều đó cho thấy ông Nguyễn Phú Trọng đang muốn củng cố thế lực của ông trong ngành Công an như thế nào.

Ở vai trò người đại diện Bộ Công An, ông Xô được ghi nhận có những phát ngôn gây tranh cãi và cả những câu trả lời “đề huề” như khi được phóng viên hỏi về các vụ nóng như tin đồn bắt bà Hồ Thị Kim Thoa, cựu thứ trưởng Công Thương.

Điều đáng nói là với vai trò là người phát ngôn của Bộ Công An, ông Tô Ân Xô có những phát biểu thể hiện ý chí người đứng đầu đảng – ông Nguyễn Phú Trọng. Phát biểu của ông Xô gây bất bình nhất cho người dân là phát ngôn về vụ án “chống đối ở Đồng Tâm” hồi Tháng Chín, 2020: “…Sự nổi lên của đối tượng [người] cầm đầu, nhất là ông Lê Đình Kình trong bối cảnh dòng họ Lê Đình có ảnh hưởng lớn tại thôn Hoành, có khả năng chi phối, tác động kết quả bầu cử ở cơ sở, là một loại cường hào địa chủ mới, hậu quả sự thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên, mượn danh nghĩa đảng viên, lo cho dân để chống lại chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước.”

Trước ông Xô, một loạt thuộc cấp của ông Tô Lâm, bộ trưởng Công An, cũng được lên lon trong những tháng qua. Hồi trung tuần Tháng Giêng, theo báo VNExpress, Thứ Trưởng Công An Nguyễn Văn Sơn được thăng cấp bậc hàm thượng tướng, trong lúc sáu sĩ quan cao cấp khác được thăng trung tướng, thiếu tướng.

Trước đó, hồi Tháng Chín, 2020, Bộ Công An CSVN cũng hào phóng thăng cấp thiếu tướng, trung tướng cho một loạt viên chức của mình, trong đó có ông Trần Quốc Tỏ, trước đó là bí thư Thái Nguyên.

Tô Ân Xô, Tô lâm và Nguyễn Ngọc Toàn trong buổi lễ thăng hàm trung tướng

Tô Ân Xô là ai?

Tô Ân Xô là con trưởng của nhà báo Tô Ân và bà Nguyễn Thị Thanh. Tô Ân từng là Trưởng phòng Biên tập Quân sự (nay là Phòng biên tập Quốc phòng – An ninh), Báo Quân đội nhân dân. Còn bà Nguyễn Thị Thanh sinh ngày 25 tháng 5 năm 1934, quê quán tại thôn Duệ Đông, thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, nguyên giáo viên trường cấp I – II Nội Duệ, Tiên Du, Bắc Ninh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, mất ngày 9 tháng 5 năm 2018. Đầu năm 1972, trên đường sang Lào đưa tin chiến trường, trung tá Tô Ân trúng bom của Không lực Hoa Kỳ ở khu vực sân bay Dừa, thuộc địa phận huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An và tử nạn, được phong liệt sĩ. Tô Ân Xô có em gái là Trung tá Tô Thanh Lan, cán bộ Phòng Bảo vệ Chính trị 1, Công an thành phố Hà Nội.

Năm 2017, Tô Ân Xô là Đại diện Lãnh sự quán Việt Nam ở Houston, Hoa Kỳ.

Ngày 2 tháng 7 năm 2018, Thiếu tướng Tô Ân Xô được trao quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm điều động và bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Công an tỉnh Bắc Giang kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2018 thay cho đại tá Phạm Mạnh Thường, được điều động giữ chức Phó cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an.

Trước khi được bổ nhiệm là Giám đốc Công an tỉnh Bắc Giang, ông là Cục trưởng thuộc Bộ Công an.

Kể từ ngày 8 tháng 9 năm 2019, Tô Ân Xô được bổ nhiệm giữ chức vụ Chánh văn phòng kiêm Người phát ngôn Bộ Công an Việt Nam

Liệu Tô Ân Xô có kết nối với Nguyễn Phú Trọng?

Trước mắt, Tô Ân Xô là cánh tay đắc lực cho Tô Lâm. Là công an nhưng Tô Ân Xô có chuyên môn về ngành báo chí và là con của một gia đình có truyền thống làm báo. Thông thường các tướng công an thường là tướng võ biền, ăn nói ít khôn khéo, tuy nhiên Tô Ân Xô thì lại khác. Rất biết nói tránh và hoặc nói theo kiểu tấn công trực diện để thể hiện hết dụng ý của cấp trên.

Năm ngoái, khi được hỏi về những vụ như tin đồn bắt bà Hồ Thị Kim Thoa, cựu thứ trưởng Công Thương CSVN, câu trả lời quen thuộc của ông Tô Ân Xô trong vai trò phát ngôn viên là “Bộ Công An chưa có thông tin về vụ…”

Nói về vụ án Đồng Tâm, Tô Ân Xô phê phán Lê Đình Kình, người bị công an bắn chết trong vụ đột nhập của công an vào thôn Hoành, là “một loại “cường hào địa chủ mới”, hậu quả sự thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên, mượn danh nghĩa đảng viên, lo cho dân để chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.”

Một người trưởng thành trong cái nôi báo chí tuyên truyền của CS mà lên cao trong ngành công an là điều làm nhiều người đặt câu hỏi. Liệu rằng nghiệp vụ của ông Tô Ân Xô là gì?

Ông Tô Ân Xô từng khoác áo Đặc phái viên của Thông tấn Xã Việt Nam tại Mỹ trong nhiều năm, sau đó là Đại diện Lãnh sự quán Việt Nam ở Houston, Texas, Mỹ.

Nhiều người cho rằng, ông Tô Ân Xô làm Đặc phái viên của Thông tấn Xã Việt Nam tại nước ngoài có thể là những sĩ quan an ninh, hoạt động nghề nghiệp chính là thu thập thông tin về những công dân quốc gia sở tại gốc Việt, cho nên thôi hoạt động báo chí, quay về Việt Nam là lập tức cởi bỏ xiêm y khoác cảnh phục với lon… tướng như… tướng Xô.

Tô Ân Xô có cái khôn ranh của một nhà báo, có sự tàn ác của một công an thực sự, có đủ nhẫn tâm của một mẫu người làm chính trị. Với con người như vậy, ắt ông Nguyễn Phú Trọng sẽ tìm thấy trong con người ông Tô Ân Xô có tố chất mà ông cần. Và với bản chất võ biền ông Tô Lâm cũng rất cần Tô Ân Xô hỗ trợ để đánh các vụ án lớn.

Tô Lâm mà được hỗ trợ bởi Tô Ân Xô, ông Nguyễn Phú Trọng sẽ có một cặp lãnh đạo ngành công an rất mạnh, chính vì thế ông Phạm Minh Chính cần phải dè chừng hai con người này. Người nào nắm được sức mạnh công an người đó sẽ giành thế thượng phong trên bàn cò chính trị. Không biết, trong 5 năm tới, ông Phạm Minh Chính có giành được hai người này về phe mình hay không. Nếu Phạm Minh Chính giành được Tô Ân Xô, sau đó có thể phe ông Chính sẽ vượt phe Nguyễn Phú Trọng.

Minh Tú – Thoibao.de (Tổng hợp)

Tin hot: Một tướng công an nổi tiếng với biệt danh “Phê Tê Bốc” đã đột quỵ

https://thoibao.de/blog/2021/04/19/tin-hot-mot-tuong-cong-noi-tieng-voi-biet-danh-phe-te-boc-da-dot-quy/

Theo báo nhà nước đưa tin thì ngày 16/4 ông thượng tướng Thượng tướng Võ Trọng Việt – Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã nhập viện do đột quỵ, hiện đang được điều trị tại Nghệ An.

Ngày 17/4, nguồn tin từ Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An cho biết, hiện bệnh viện đang điều trị bệnh đột quỵ cho Thượng tướng Võ Trọng Việt – Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.

Được biết, hiện nay, Thượng tướng Võ Trọng Việt vẫn đang được điều trị tích cực trong tình trạng bệnh nặng, chảy máu não. Chuyên gia của Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã vào Nghệ An để thăm khám, hội chẩn, xác định phương án điều trị tối ưu cho Thượng tướng Võ Trọng Việt.

Hiện nay ông Võ Trọng Việt, 65 tuổi, quê ở xã Hòa Lạc, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Ủy viên Đảng đoàn Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Bệnh đột quỵ là bệnh mà người trung niên trở đi gặp phải khá nhiều, tuy nhiên bệnh đột quỵ mà gắn với quan chức càng cao thì nguyên nhân của nó càng phức tạp. Bởi bệnh đột quỵ là loại bệnh mà người ta không thể lường trước được vì vậy những trò đầu độc nhau ở chính trường đôi khi nó cũng mang màu sắc đột quỵ. Không ai có thể khẳng định được.

Ông thượng tướng Võ Trọng Việt

Còn nhớ giữa tháng 4 năm 2019, ông Nguyễn Phú Trọng cũng bị đột quỵ tại Kiên Giang. Điều đáng nói là ông Trọng lại đột quỵ ngay nơi được gọi là “sân nhà” của đối thủ chính trị của mình. Chính điều đó làm cho người ta nghi ngờ về nguyên nhân ngã bệnh. Về triệu chứng thì nhà nước thông báo cho toàn dân là ông Trọng đột quỵ, nhưng giới thạo tin thì lại không tin lắm về nguyên nhân đó. Chính vì lẽ đps cho đến bây giờ, người dân vẫn nửa tin nửa ngờ về lần ngã bệnh của ông Trọng.

Biệt danh “Phê Tê Bốc” có từ khi nào?

Hồi tháng 6/2018, ông Thượng tướng Võ Trọng Việt, lúc đó là thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội khóa 14, đột nhiên ông nổi như cồn bằng một phát biểu làm dậy sóng cộng đồng mạng lúc đó.

Lúc đó mạng xã hội xuất hiện clip chỉ 16 giây, ghi lại một phần rất nhỏ phát biểu của tướng Việt – nhằm thuyết minh lần cuối cho Dự luật về An ninh mạng, trước khi các đại biểu Quốc hội Việt Nam bỏ phiếu quyết định về số phận của dự luật này.

Trong 16 giây ấy, người ta thấy tướng Việt cặm cụi đọc rõ to với nỗ lực rõ là phi thường và từng chữ tuần tự bật ra: Hiện nay, ‘gu gờ’ và ‘bê… bê tê bốc’ đang lưu giữ dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam tại trung tâm dữ liệu đặt tại Hồng Kông và Singapore. Nếu qui định của luật này có hiệu lực thì doanh nghiệp này phải dịch chuyển đám mây điện toán, đám mây ảo về Việt Nam để mở trung tâm dự liệu tại Việt Nam là hoàn toàn toàn khả thi…

Có một điểm đáng ngạc nhiên là dù cùng xem, cùng nghe clip vừa kể nhưng độc giả các diễn đàn điện tử, người sử dụng mạng xã hội Việt ngữ không thể đoán định chính xác tướng Việt đề cập đến thứ gì. Có người bảo tướng Việt đề cập đến “bê… bê tê bốc”, người khác bảo rằng, rõ ràng họ nghe tướng Việt nhắc tới “pha xê bốc”, người khác nữa khẳng định, không phải, đó là “phê tê bốc”, là “tuýt tê tê bốc”…

Ông tướng ba sao, giờ đang là thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội khóa 14 quả là tài, chỉ nói một câu đủ khiến thiên hạ cãi nhau như… mổ bò mà vẫn không thể nhất trí với nhau rằng thực ra ông đã nói gì.

Thực ra đó chính là Facebook nhưng mà ông tướng 3 sao ấy không biết Tiếng Anh nên đã có sự phiên âm buồn cười đến như vậy.

Đột quỵ ngày càng trở nên phổ biến

Mới đây, ngày 10/4, ông Lưu Văn An – Quyền Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền vừa qua đời đêm qua ở tuổi 59. Tin này được ông Nguyễn Minh Tuấn – Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Yên Bái xác nhận tin buồn trên cho báo chí nhà nước. Ông Tuấn cho biết, ông Lưu Văn An qua đời lúc 22h đêm 10.4 trong chuyến công tác tại thị xã Nghĩa Lộ.

Ông An cùng đoàn công tác Học viện Báo chí Tuyên truyền đang đi khảo sát về tình hình đào tạo cao học tại huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ. Tối 10.4, sau khi ăn tối với đoàn công tác, ông An về phòng nghỉ ngơi, sau đó sự cố xảy ra.

Đến sáng 11/4, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng xác nhận thông tin kể trên.

Ông Lưu Văn An là phó gáio sư tiến sĩ sinh năm 1962, tốt nghiệp đại học ở ĐH Tổng hợp Leningrat, Nga, chuyên ngành dân tộc học năm 1988. Ông có thời gian làm tiến sĩ tại ĐH Saint Petersburg, Nga, chuyên ngành dân tộc học năm 1992 và thực tập sinh khoa học tại ĐH Saint Petersburg, Nga chuyên ngành dân tộc học năm 1997.

Ông từng công tác tại Viện Dân tộc học, sau đó về Học viện Báo chí và tuyên truyền công tác từ năm 1999 đến nay. Trong thời gian công tác ông đã từng là giảng viên khoa chính trị học, sau đó giữ chức phó trưởng khoa chính trị học. Từ năm 2012, ông giữ chức vụ phó giám đốc học viện.

Ngày 10/4 ông PGS. TS Lưu Văn An quyền Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng đột quỵ và qua đời

Đến tháng 10.2020, Học viện Báo chí và tuyên truyền đã quyết định giao quyền Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho PGS.TS Lưu Văn An.

Với một quan chức nhỏ như ông Lưu Văn An thì có lẽ là bệnh đột quỵ thật. Với những chức quan nhỏ như vậy khó có ai mà ra tay đầu độc để triệt hạ được.

Chỉ cách nhau có một tuần Việt Nam chứng kiến 2 cái đột quỵ của 2 quan chức nhà nước. Trong đó một người đã chết và một người thì vẫn còn đang nằm viện.

Có thể ông Thượng tướng Võ Trọng Việt sẽ không thiệt mạng, nhưng để được chữa khỏi như ông Nguyễn Phú Trọng thì có thể nói khó được như vậy.

Thân thế của ông Thượng tướng Võ Trọng Việt

Được biết ông ông Thượng tướng Võ Trọng Việt là anh trai của ông Thiếu tướng Võ Trọng Hải – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An vừa được Ban Chấp hành Trung ương điều động, chỉ định làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh.

Có thể nói gia đình anh em Võ Trọng Việt – Võ Trọng Hải là một nhóm lợi ích gia đình. Từ những mối quen biết trung ương, ông Võ Trọng Việt đã tác động Ban chấp hành Trung ương đảng ban hành quyết định số 66 ngày 15/4, quyết định điều động, chỉ định ông Võ Trọng Hải – Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Ông Võ Trọng Hải sinh năm 1968, quê xã Đức Hòa, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 20 tuổi, ông nhập ngũ, trở thành lính trinh sát biên phòng. Tức cùng ngành với anh trai ông Võ Trọng Việt.

Quá trình công tác, ông lần lượt giữ các chức vụ: Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo; Phó Chỉ huy trưởng rồi Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng Hà Tĩnh.

Tháng 8/2018, ông được điều động, bổ nhiệm làm Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Hà Tĩnh. Đến tháng 3.2019, ông được Bộ trưởng Bộ Công an điều động, bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Công an Hà Tĩnh.

Đến tháng 6/2020, ông được Bộ trưởng Công an điều động giữ chức Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An.

Còn ông Võ Trọng Việt sinh ngày 10 tháng 9 năm 1957 trong một gia đình nông dân ở cửa sông làng Trung Hoà, Đức Hòa, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông là anh cả của 6 đứa em: Võ Trọng Hùng (Đại tá, nguyên Phó giám đốc Công an tỉnh Hà Tĩnh), Võ Ngọc Sơn (Giám đốc Công ty Đăng kiểm xe cơ giới Hà Tĩnh), Võ Trọng Hải (Thiếu tướng, Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An, Nguyên Giám đốc công an tỉnh Hà Tĩnh, Nguyên Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Hà Tĩnh, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh), Võ Thị Hà (em gái, doanh nhân), Võ Thị Hiền (em gái, công tác tại Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh), và Võ Thị Hòa (em gái, công tác trong ngành Bưu điện tỉnh Hà Tĩnh).

Đấy là những vai mà ông thượng tướng Võ Trọng Việt đã giúp đỡ cho người nhà. Đây là một nhóm lợi ích gia đình rất rõ ràng. Chính những kiểu bố trí quyền lực cho người nhà mà Việt Nam cứ nghèo mãi.

Nguyễn Duy – Thoibao.de (Tổng hợp)

GS Carl Thayer nói về ưu tiên của Marc Knapper, tân Đại sứ Hoa Kỳ tại VN

https://www.bbc.com/vietnamese/world-56798523
Marc Knapper

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Cuối tuần trước, Tổng thống Joe Biden công bố quyết định sẽ đề cử ông Marc Evans Knapper làm tân Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Trong văn bản của Nhà Trắng phổ biến hôm 15/4 ông Marc Knapper được mô tả:

”Là một thành viên cao cấp của Bộ Ngoại giao, với cấp hàm Tham tán Công sứ, hiện là Phó Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách Nhật Bản và Hàn Quốc trong Vụ Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Bộ Ngoại giao.

Trước khi đảm nhận vị trí đó, ông Marc Knapper là Phó Đại sứ Mỹ tại Nam Hàn sau khi đảm nhận chức vụ Giám đốc phụ trách Ấn Độ, và phụ trách Nhật Bản của Bộ Ngoại giao.

Ông Marc Knapper từng nhận được nhiều giải thưởng, gồm Giải thưởng Dịch vụ Xuất sắc của Bộ trưởng Ngoại giao, Giải thưởng Nhà ngôn ngữ học của năm của Bộ Ngoại giao và Giải thưởng Xếp hạng Tổng thống. Ông nói được tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Việt.”

Joe Biden quyết tâm đối phó thách thức Trung Quốc ‘dù khó khăn’

Nhìn từ Việt Nam: Nước Mỹ có phải ‘cũng thường thôi’?

Thượng viện Mỹ phê chuẩn tân Đại sứ ở VN

‘Mỹ đã trở lại’ – Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nói với BBC

BBC News Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn nhanh với GS Carl Thayer về ưu tiên và thử thách của vị Đại sứ kế tiếp của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

BBC:Theo giáo sư, những ưu tiên của ông Marc Knapper, tân Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ là gì?

GS Carl Thayer: Các ưu tiên của ông Marc Knapper với tư cách là Đại sứ sắp tới của Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ được quyết định phần lớn bởi di sản của quan hệ đối tác toàn diện năm 2013 dưới thời Chính quyền Obama và cũng như các chính sách do Tổng thống Joe Biden và Ngoại trưởng Anthony Blinken đặt ra.

Hướng dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời do Tổng thống Biden ban hành vào tháng 3 kêu gọi Hoa Kỳ hợp tác với Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác "để thúc đẩy các mục tiêu chung" trong đó Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Tự do và Mở là tối quan trọng.

BBC:Như vậy, những nhiệm vụ cụ thể của vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam sắp tới là gì, theo giáo sư?

GS Carl Thayer: Ông Knapper sẽ được giao nhiệm vụ thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện song phương với Việt Nam, bao gồm phối hợp chính trị và ngoại giao ở khu vực và quốc tế nhằm tăng cường ASEAN và các thể chế đa phương khác; tăng cường quan hệ an ninh và quốc phòng nhằm xây dựng năng lực an ninh hàng hải của Việt Nam để chống lại sự uy hiếp và bắt nạt của Trung Quốc; loại bỏ các tác nhân gây khó chịu trong quan hệ kinh tế và thương mại song phương; và tăng cường hợp tác để chống lại virus coronas trong đó có việc cung cấp vaccine.

BBC:Thử thách lớn nhất mà ông Knapper sẽ phải đối diện là gì?

GS Carl Thayer: Nhiệm vụ khó khăn nhất của ông Knapper sẽ là kéo được Việt Nam vào một "mạng lưới các đồng minh và đối tác tương hỗ, sẵn sàng và có thể bảo vệ chủ quyền của họ khỏi tình trạng bị [những nước khác] ép buộc".

Chúng ta có thấy rõ từ nhận xét của cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink và nhận xét riêng của cựu Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Phạm Quang Vinh là hợp tác thực tế mang tính chiến lược quan trọng hơn là chỉ nâng quan hệ song phương lên đối tác chiến lược về mặt hình thức.

BBC:Chính phủ và người dân Việt Nam có thể kỳ vọng gì ở Đại sứ Marc Knapper, sau khi ông nhậm chức?

GS Carl Thayer: Chính phủ Việt Nam sẽ muốn ông Knapper cam đoan rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tôn trọng hệ thống chính trị, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cả chính phủ và người dân Việt Nam sẽ mong ông Knapper đảm bảo mạnh mẽ hơn rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cân bằng ảnh hưởng và sức mạnh quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông.

Việt Nam cũng mong muốn ông Knapper tiếp tục hỗ trợ chương trình tài trợ của Hoa Kỳ để giải quyết các vấn đề liên quan đến di sản chiến tranh, và tài trợ của Hoa Kỳ trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ, công nghiệp quốc phòng và bảo vệ môi trường bao gồm các vấn đề khí hậu.

Hơn 9.000 tỷ đồng đền bù đất xây sân bay Long Thành năm 2021

https://vietnambiz.vn/hon-9000-ty-dong-den-bu-dat-xay-san-bay-long-thanh-nam-2021-20210419083733283.htm

08:37 | 19/04/2021
Năm 2021, dự án Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sân bay Long Thành được bố trí nguồn vốn hơn 9.000 tỷ đồng để thực hiện.

Hơn 9.000 tỷ đồng đền bù đất xây sân bay Long Thành năm 2021 - Ảnh 1.

Khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn cơ bản hoàn thiện xây dựng hạ tầng. (Ảnh: Báo Đồng Nai).

Báo Đồng Nai dẫn thông tin từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh này cho biết, trong năm 2021, dự án Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không quốc tế (sân bay) Long Thành được bố trí nguồn vốn hơn 9.000 tỷ đồng để thực hiện.

Trong đó, kế hoạch vốn năm 2021 đã giao hơn 4.600 tỷ đồng và nguồn vốn chuyển nguồn từ năm 2020 sang năm 2021 hơn 4.500 tỷ đồng.

Trong tổng nguồn vốn được bố trí cho dự án năm 2021, UBND huyện Long Thành là đơn vị được bố trí nguồn vốn lớn nhất với hơn 8.200 tỷ đồng để phục vụ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người dân và thực hiện dự án tái lập hạ tầng kỹ thuật – hạ tầng xã hội ngoài ranh sân bay Long Thành (dự án thành phần 5).

Hiện nay, tổng vốn ngân sách trung ương đã bố trí cho dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sân bay Long Thành trong giai đoạn 2018 – 2021 là hơn 22.800 tỷ đồng. Trong năm 2020, tỉnh Đồng Nai được bố trí hơn 17.000 tỷ đồng để thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án sân bay Long Thành.

Lũy kế từ năm 2018 đến nay, Đồng Nai đã thực hiện giải ngân được hơn 7.800 tỷ đồng, đạt 33,6% tổng nguồn vốn đã được Trung ương bố trí cho dự án. Trong đó, tính riêng từ đầu năm 2021 đến ngày 17/3/2021, các cơ quan chức năng của tỉnh đã thực hiện giải ngân nguồn vốn gần 612 tỷ đồng đối với dự án trên.

Về tiến độ xét tái định cư cho người dân vùng dự án, đến thời điểm hiện nay, UBND huyện Long Thành đã thực hiện rà soát 1.724 hồ sơ. Trong đó, đã xét tái định cư cho 348 hồ sơ, đồng thời, UBND huyện Long Thành cũng đã ban hành các quyết định giao đất cho người dân đối với các trường hợp này.